Bài 15: Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 - 1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - Lịch sử lớp 12

Bạn phải là thành viên VIP mới được làm bài này! Đăng ký mua thẻ VIP tại đây

Lý thuyết bài 15: Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 - 1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời

I. Tình hình Việt Nam trong những năm 1939 - 1945

1. Tình hình chính trị

   - Đầu tháng 9 - 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Quân đội phát xít Đức kép vafp Pháp. Chính phủ Pháp đầu hàng,thực hiện chính sách thù địch với các lực lượng tiên bộ trong nước, phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa
   - Tháng 6 - 1940 Đô đốc G. Đờcu được cử làm Toàn quyền Dông Dương. Chính quyền mới thực hiện một loạt chính sách nhằm vơ vét sức người, súc của để dốc vào chiến tranh
 - Cuối tháng 9 - 1940, quân Nhật tiến vào miền Bắc Việt Nam. Quân Pháp nhanh chóng đầu hàng. Phát xít Nhật giữ nguyên bộ máy thống trị của Pháp. Việt Nam có thêm những đảng phái thân Nhật như Đại Việt, Phục Quốc... Quân Nhật và tay sai ra sức tuyên truyền lừa bịp về văn minh và sức mạnh của Nhật, về thuyết Đại Đông Á, dọn đường cho việc hất cẳng Pháp
  - Sang năm 1945, phát xít Đức bị thất bại nặng nề. Ở châu Á- Thái Bình Dương,quân Nhật thua to tại nhiều nơi. Ở Đông Dương, 9 - 3 - 1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương. Nhân đó, đảng phái chính trị ở Việt Nam tăng cường hoạt động. Nhân dân sẵn sàng vùng lên khởi nghĩa

2. Tình hình kinh tế - xã hội

   - Đầu tháng 9 - 1939, Toàn quyền Catơru ra lệnh tổng động viên nhằm cung cấp cho "quốc mẫu" tiềm lực tối đa của Đong Dương về quân sự, nhân lực, các sản phẩm nguyên liệu
   - Thực dân Pháp thu hành chính sách Kinh tế chỉ huy, tăng mức thuế cũ, đặt thêm thuế mới, sa thải bớt công nhân...
   - Khi quân Nhật vào Đông dương, Pháp buộc phải để cho Nhật sử dụng sân bay, phương tiện giao thông, kiểm soát đường sắt và tàu biển. Nhật bắt chính quyền Pháp hằng năm phải nộp một khoản tiền lớn
  - Quân Nhật còn cướp ruộng đất của nông dân, bắt nhổ lúa để trồng đay, thầu dầu. Yêu cầu chính quyền Pháp xuất các nguyên liệu chiến lược sang Nhật
  - Một số công ty của Nhật đã đầu tư vào ngành phục vụ cho nhu cầu quân sự: khai thác mănggan, sắt, apatít
  -> Cuối năm 1944 - đầu năm 1945, có gần 2 triệu đồng bào ta chết đói.

II. Phong trào giải phóng dân tộc từ tháng 9 -1939 đến tháng 3 - 1945

1. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 - 1939

   - Tháng 11 - 1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng được triệu tập tại Bà Điểm do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì
   - Hội nghị xác định:
   + Nhiệm vụ, mục tiêu đấu tranh trước mắt là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập
   + Chủ trương đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn thực dân đế quốc, địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng; khẩu hiệu lập Chính phủ dân chủ cộng hòa
   + Chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang đấu tranh đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang bí mật
   + Chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương

2. Những cuốc đấu tranh mở đầu thời kì mới

a) Khởi nghĩa Bắc Sơn (27 - 9 - 1940)

   - Ngày 22 - 9 - 1940,quân Nhật vượt biên giới Việt - Trung, đáh chiếm Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng,đổ bộ lên Lạng Sơn
   - Ở Lạng Sơn, quân Pháp bị tổn thất nặng nề. Phần lớn đầu hàng, còn lại rút chạy về Thái Nguyên qua châu Bắc Sơn
   - Đêm 27 -9 - 1940, nhân dân Bắc Sơn nổi dậy chặn đánh quân Pháp, chiếm đồn Mỏ Nhài. Chính quyền địch ở Bắc Sơn tan rã. Nhân dân làm chủ châu lị, các vùng lân cận. Đội du kích Bắc Sơn được thành lập.
   - Pháp Nhật nhanh chóng cấu kết với nhau. Mấy hôm sau, Nhật thả tù binh Pháp , cho quân Pháp trở lại đóng các đồn bốt Lạng Sơn. Pháp tiến hành khủng bố phong trào cách mạng ở Bắc Sơn.
   - Khởi nghĩa Bắc Sơn có ý nghĩa lịch sử quan trọng.

b) Khởi nghĩa Nam Kì (23 - 11 - 1940)

   - Tháng 11 - 1940, xảy ra cuộc xung đột giữa Pháp và Thái Lan. Chính quyền thực dân bắt thanh niên Việt Nam, Cao Miên đi làm bia đỡ đạn nhưng bị nhân dân phản đối
   - Xứ ủy Nam Kì chuẩn bị phát động nhân dân khởi nghĩa, cử địa biểu ra Bắc xin chỉ thị của Trung ương
   - Khởi nghĩa bùng nổ vào đêm 22 rạng sáng 23 - 11 - 1940, từ miền Đông đến miền Tây. Chính quyền cách mạng đã được thành lập ở nhiều nơi
   - Do kế hoạch bị lộ, Pháp cho máy bay ném bom tàn sát dân vùng nổi dậy,bắt người
   - Lực lượng còn lại rút về Đồng Tháp và U Minh để củng cố lực lượng

c) Binh biến Đô Lương (13 - 1 - 1941)

   - Ngày 13-1-1941, binh lính đồn Chợ Rạng dưới sự chỉ huy của Đội Cung đã nổi dậy. Tối đó, quân khởi nghĩa chiếm Đô Lương rồi tiến về Vinh để phối hợp với binh lính chiếm thành nhưng không thực hiện được. Chiều hôm đó, toàn bộ binh lính bị bắt. Ngày 11-2-1941, Đội Cung bị sa vào tay giặc
   - Ngày 24-4-1941, Pháp xử bắn Đội Cung cùng 10 đồng chí của ông

3. Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5 - 1941)

   - Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trwujc tiếp lãnh đạo cách mạng
   - Người chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pác Bó từ ngày 10 đến 19-5-1941
   - Hội nghị khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là giải phóng dân tộc, nêu khẩu hiệu giảm tô, giảm thuế,chia lại ruộng công, tiến tới thực hiện người cày có ruộng
   - Hội nghị chỉ rõ sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật sẽ thành lập Chính phủ nhân dân của nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh thay cho Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, thay tên các hội Cứu quốc, giúp đỡ việc lập mặt trận ở các nước Lào, Campuchia
   - Hội nghị xác định hình thái của cuộc khởi nghĩa nước ta là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa
   - Hội nghị đã hoàn chỉnh chủ trương được đề ra tại Hội nghị trung ương tháng 11-1939
   - Ngày 19-5-1945, Việt Minh ra đời. Năm tháng sau, Tuyên ngôn, Chương trinh, điều lệ được công bố chính thức

4. Chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền

a) Xây dựng lực lượng cho cuộc khởi nghĩa vũ trang

   - Xây dựng lực lượng chính trị : Một trong những nhiệm vụ cấp bách cuarDdarng là vận động quần chúng tham gia Việt minh. Cao Bằng là nơi thí điểm cuộc vận động xây dựng các hội Cứu quốc
   + Năm 1943, Đảng đề ra Đè cương văn hóa Việt Nam. Năm 1944, Đảng Dân chủ Việt nam và Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam được thành lập
   - Xây dựng lực lượng vũ trang :
   + Sang năm 1941, những đội du kích Bắc Sơn lớn mạnh lên, thống nhất lại thành Trung đội Cứu quốc quân (14-2-1941). Cứu quốc quân phát động chiến tranh du kích trong 8 tháng để đối phó với sự vây quét của địch, sau phân tán thành nhiêu bộ phận để chấn chỉnh lực lượng, gây dựng cơ sở chính trị tại Tái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn. Ngày 15-9-1941, Trung đội Cứu quốc quân II ra đời
   - Xây dựng căn cứ địa : Vùng Bắc Sơn - Võ Nhai được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11-1940 chủ trương xây dựng thành căn cứ địa cách mạng. Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa.

b) Gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền 

   - Từ ngày 25 đến ngày 28-2-1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Võng La. Hội nghị vạch ra kế hoạch cụ thể về việc chuẩn bị toàn diện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang
   - Ở căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, Cứu quốc quân hoạt động mạnh, tuyên truyền vũ trang, gây dựng cơ sở chính trị, mở rộng khu căn cứ. Trung đội Cứu quốc quân III ra đời (25-2-1944). Ở căn cứ Cao Bằng, đội vũ trang tự vệ, đội du kích được thành lập. Năm 1943, Ban Việt Minh liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng lập ra 19 ban "Xung phong Nam tiến"
   - Ngày 7-5-1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị "Sửa soạn khởi nghĩa"; ngày 10-8-1944, Trung ương Đảng kêu gọi "Sắm sửa vũ khí đuổi kè thù chung"
  - Ngày 22-12-1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. Sau 2 ngày, Đội đánh thắng hai trận ở Phay Khắt, Nà Ngần.

IIi. Khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

1. Khởi nghĩa từng phần (thừ tháng 3 đến giữa tháng 8 - 1945)

   - Đầu năm 1945, trên đường Hồng quân Liên Xô tiến đánh Béclin, một loạt nước châu Ấu được giải phóng
   - Ở Mặt trận châu Á - Thái Bình Dương, quân Đồng minh giáng cho quân Nhật đòn nặng nền
   - Ở Đông Dương, lực lượng Pháp theo phái Đờ Gôn ráo riết hoạt động, chờ thời cơ phản công Nhật.
   - Vào 20 giờ ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Sau khi hất cẳng Pháp, phát xít Nhật tuyên bố "giúp các dân tộc Đông Dương xây dựng nền độc lập". Chúng dựng lên Chính phủ Trần Trộng Kim và đưa Bảo Đại lên làm "quốc trưởng". Thực chất Nhật đã độc chiếm Đông Dương, tăng cường vơ vét, bòn rút của dân ta, đàn áp dã man những người cách mạng
   - Ngày 12-3-1945, Ban Thừng vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành độngc ủa chúng ta". Khẩu hiệu "Đánh đuổi Pháp - Nhật" được thay thế bằng khẩu hiệu "Đánh đuổi phát xít Nhật"
   - Hình thức đáu tranh từ bất hợp tác, bãi công đến biểu tình, thị uy, vũ trang, du kích và sẵn sàng chuyển qua tổng khởi nghĩa khi có điều kiện
   - Ở khu Cao - Bắc - Lạng, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân phối hợp với lực lượng chính trị của quần chúng giải phóng hàng loạt xã, châu, huyện
   - Ở Bắc Kì,Trung Kì, Đảng đề ra khẩu hiệu "Phá kho thóc, giải quyết nạn đói"
   + Việt Minh lãnh đạo quần chúng nổi dậy ở Tiên Du (10-3), Bần Yên Nhân (11-3)
   + Tù chính trị nhà lao Ba Tơ lãnh đạo quần chúng khởi nghãi, thành lập chính quyền cách mạng, tổ chức đội du kích Ba Tơ
   - Ở Nam Kì , phong trào Việt Minh hoạt động mạnh nhất là ở Mĩ Tho, Hậu Giang

2. Sự chuẩn bị cuối cùng trước ngày Tổng khởi nghĩa

   - Ngày 20-4-1945, Ban Thường vụ trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự Cách mạng Bắc Kì. Hội nghị quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang; tích cực phát triển chiến tranh du kích, xây dựng chiến khu, chuẩn bị tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến. Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kì được thành lập để chỉ huy các chiến khu ở Bắc Kì, giúp đỡ cả nước về quân sự
   - Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam và Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp
   - Ngày 15-5-1945, Việt Nam Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân
   - Táng 5-1945, Hồ Chí Minh rời Pác Bó về Tân Trào, chọn đây làm trung tâm chỉ đạo phong trào cả nước
   - Ngày 4-6-1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập. Tân Trào được chọn làm thủ đô khu giải phóng. Ủy ban lâm thời khu giải phóng được thành lập. Khu giải phóng Việt Bắc trở thành căn cứ địa chính của cách mạng cả nước.

3. Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 

a) Nhật đầu hàng Đồng minh, lệnh Tổng khởi nghĩa được ban bố

   - Đầu tháng 8-1945, quân Đồng minh tiến công vào các vị trí cả quân Nhật ở châu Á - Thái Bình Dương. Ngày 6 và ngày 9-8-1945, Mĩ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôshima và Nagaxaki 
   - Ngày 9-8-1945, quân đội Xô viết mở màn chiến dịch tổng công kích đạo quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc
   - Giữa trưa 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô diều kiện. 
   - Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã. Điều kiện khách quan thuận lợi cho tổng khởi nghĩa đến
   - Ngày 13-8-1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Đến 23 giờ cùng ngày, chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước
   - Từ ngày 16 đến ngày 17-8-1945, Đại hội Quốc dân được triệu tập ở Tân Trào. Đại hội tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách của Việt Minh, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

b) Diễn biến cuộc Tổng khởi nghĩa

   - Từ ngày 14-8,một số cấp bộ Đảng và tổ chức Việt Minh đã phát động nhân dân khởi nghĩa. Khởi nghĩa nổ ra ở nhiều xã, huyện thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, Thanh Hóa,Nghệ An...
   - Chiều 16-8,, một đơn vị Giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy xuất phát từ Tân Trào tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên
   - Ngày 18-8, nhân dân Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành được chính quyền ở tỉnh lị sớm nhất cả nước
   - Tối 19-8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội thắng lợi.
   - Ở Huế, 20-8, Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh được thành lập. Ủy ban quyết định giành chính quyền vào 23-8
   - Sáng 25-8, quần chúng chiếm sở Mật thám, Sở Cảnh sát,... giành chính quyền ở Sài Gòn
   - Chiều 30-8, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị. Chế độ phong kiến Việt Nam hoàn toàn sụp đổi

IV. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập

   - Ngày 25-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Trung uơng Đảng, Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam từ Tân Trào về đến Hà Nội
   - Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (28-8-1945)
   - Ngay 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập, tuyên bố vói toàn thể quốc dân và thế giới : nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập.

V. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945

1. Nguyên nhân thắng lợi

   - Nguyên nhân chủ quan :
   + Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, từng trải qua những cuộc đấu tranh kiên cường cho độc lập tự do. Vì vậy, khi Đảng Cộng sản Đông Dương, Mặt trận Việt Minh phất cao ngọn cờ cứu nước toàn dân nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà
   + Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Hồ Chí MInh lãnh đạo, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn
   + Đảng ta đã có quá trình chuẩn bị trong 15 năm, đã đúc rút được bài học kinh nghiệm qua những thành công, thất bại
   - Nguyên nhân khách quan Chiến thắng của Hồng quân Liên Xô và quân Đồng minh chống phát xít đã cổ vũ tinh thần, niềm tin cho nhân dân ta, tạo thời cơ để nhân dân ta đứng lên Tổng khởi nghĩa.

2. Ý nghĩa lịch sử

   + Mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta
   + Đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở ra kỉ nguyên mới của dân tộc
   + Đảng Cộng sản Đông Dương trở thành một Đảng cầm quyền
   + Góp phần vào chiến thắng chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chọc thủng khâu yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng.

3. Bài học kinh nghiệm

   + Đảng phải có đường lối đúng đắn trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin.
   + Đảng tập hợp và tổ chức các lực lượng yêu nước rộng rãi trong mặt trận dân tộc thống nhất - Mặt trận Việt Minh; phân hóa và cô lập kẻ thù, đánh bại chúng,
   + Linh hoạt kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần, chớp thời cơ phát động Tổng khởi nghĩa.