Bài 9. Tập tính của động vật (tiếp theo) - Sinh học 11

Một số hình thức học tập ở động vật: quen nhờn, in vết,điều kiện hóa, học ngầm, học khôn. Một số dạng tập tính phổ biến ở động vật:kiếm ăn, bảo vệ lãnh thổ, sinh sản, di cư, xã hội...

Bạn phải là thành viên VIP mới được làm bài này! Đăng ký mua thẻ VIP tại đây

Bài 9. Tập tính của động vật (tiếp theo)

I. Một số hình thức học tập ở động vật 

1. Quen nhờn
- Khái niệm: là hình thức học tập đơn giản nhất, động vật phớt lờ, không trả lời những kích thích lặp lại nhiều lần nhưng không kèm theo sự nguy hiểm.
- Ví dụ: Khi có bóng đen trên cao lặp lại nhiều lần mà không nguy hiểm gì thì gà con không chạy đi ẩn nấp nữa.
2. In vết
- Khái niệm: In vết là hiện tượng các con non đi theo các vật chuyển động mà chúng nhìn thấy đầu tiên. Hiện tượng này chỉ thấy ở những loài thuộc lớp chim.
- Ví dụ: Ngỗng xám con đã in vết nhà tập tính học konrad lorenz và đi theo ông.

\n<title></title> \n<title></title>
3. Điều kiện hóa
- Điều kiện hóa đáp ứng: là sự hình thành mối liên kết mới trong thần kinh trung ương dưới tác động của các kích thích kết hợp đồng thời. Ví dụ: thi nghiệm của Paplop.
- Điều kiện hóa hành động: liên kết một hành động với một phần thưởng (hoặc phạt), sau đó động vật chủ động lặp lại (hoặc không lặp lại) các hành vi đó.
4. Học ngầm 
- Khái niệm: là kiểu học không có ý thức, không biết rõ là mình đã học được, khi có nhu cầu thì kiến thức đó tái hiện để giải quyết những tình huống tương tự.
- Ví dụ: thả chuột vào đường đi, sau đó cho thức ăn thì chuột biết đi đúng đường đó.
5. Học khôn
- Khái niệm: là kiểu học phối hợp các kinh nghiệm cũ để giải quyết tình huống mới.
- Ví dụ: tinh tinh biết dùng que để bắt mối

.II. Một số dạng tập tính phổ biến ở động vật

1. Tập tính kiếm ăn
- Tác nhân kích thích: hình ảnh, âm thanh, mùi phát ra từ con mồi.
- Chủ yếu là tập tính học được. Động vật có hệ thần kinh càng phát triển thì tập tính càng phức tạp.
- Gồm các hoạt động: rình mồi, vồ mồm, bỏ chạy hoặc lẩn trốn.
- Ví dụ: Hải li đắp đập để bắt cá, mèo rình mồi.
2. Tập tính bảo vệ lãnh thổ
- Các loài động vật dùng mùi hoặc nước tiểu, phân của mình để đánh dấu lãnh thổ. Chúng có thể chiến đấu quyết liệt khi có đối tượng xâm nhập vào lãnh thổ của mình.
- Ví dụ: cầy hương dùng mùi cảu tuyến thơm để đánh dấu; chó, mèo, hổ ... đánh dấu lãnh thổ bằng nước tiểu.
3. Tập tính sinh sản
Là tập tính bẩm sinh mang tính bản năng, gồm chuỗi các phản ứng phức tạp do kích thích của môi trường bên ngoài (nhiệt độ) hoặc bên trong (hoocmon) gây nên hiện tượng chín sinh dục và các tập tính ve vãn, tranh giành con cái, giao phối, chăm sóc con non,...
- Tác nhân kích thích: Môi trường ngoài (thời tiết, âm thanh, ánh sáng, hay mùi do con vật khác giới tiết ra...) và môi trường trong (hoocmon sinh dục).
- Tạo ra thế hệ sau, duy trì sự tồn tại của loài.
- Ví dụ: chim trống tạo ra chiếc tổ đẹp, nhảy múa để thu hút sự chú ý của chim mái.
4. Tập tính di cư
- Do sự thay đổi nhiệt độ, độ ẩm, một số loại côn trùng, chim, cá có hiện tượng di cư để tránh rét hoặc sinh sản.
- Định hướng nhờ vị trí mặt trăng, mặt trời, các vì sao, địa hình, từ trường, hướng dòng chảy.
- Ví dụ: Chim di cư, cá hồi vượt đại dương để sinh sản, cua đỏ di cư.
5. Tập tính xã hội
- Là tập tính sống bầy đàn, trong đàn có thứ bậc (hươu, nai, voi, khỉ, sư tử,... có con đầu đàn) có tập tính vị tha (ong thợ trong đàn ong, kiến lính trong đàn kiến)...

III. Ứng dụng những hiểu biết về tập tính vào đời sống và sản xuất

Con người huấn luyện động vật vào các mục đích khác nhau: bảo vệ mùa màng, chăn nuôi, an ninh quốc phòng, giải trí, săn bắn.
- Dùng thú để săn mồi (chó, chim ưng ...), để chăn gia súc (chó,...), dùng chó để phát hiện ma túy và bắt tội phạm. 
- Sử dụng một số tập tính của gia súc trong chăn nuôi: nghe tiếng kẻng, trâu bò trở về chuồng.
- Làm bù nhìn ở ruộng để đuổi chim chóc phá hoại cây trồng.
- Dạy thú (hổ, voi, khỉ, cá sấu, cá heo, trăn, chó...) làm xiếc.
Rèn luyện tập tính ở người: kiềm chế cảm xúc tiêu cực, ăn đúng giờ, tuân thủ luật pháp và đạo đức xã hội.